| |
Theo phong tục tập quán hôn nhân gia đình xưa
và nay của một số vùng thuộc các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc... thì họ
hàng được phép kết hôn với nhau, nếu không trùng họ. Ngược lại, nếu trùng họ
thì dù không là họ hàng với nhau cũng không được kết hôn.
Còn theo phong tục Việt Nam, thì việc cùng họ
hay khác họ cũng không được phép kết hôn, nếu đã là họ hàng với nhau. Ngoại
trừ là họ hàng sau 3 đời, thì có thể kết hôn.
Chính sách hôn nhân
Nhà Trần lấy ngôi nhà Lý bằng biện pháp hôn
nhân. Nhà Trần từ vai trò là ngoại thích của nhà Lý đã giành ngôi. Do đó, để
tránh họa ngoại thích, nhà Trần chủ trương chỉ kết hôn với người trong họ.
Tác giả Nguyễn Thị Chân Quỳnh
[3] đã dẫn ra
gần 40 trường hợp hôn nhân nội tộc của nhà Trần: -
Trần Liễu, anh Thái Tông, con Thượng hoàng Trần
Thừa, lấy Thuận Thiên công chúa, con vua
Lý Huệ Tông và
Thuận Trinh. Thuận Trinh là em ruột Trần Thừa, Trần Liễu và Thuận Thiên
là con cô con cậu.
-
Năm 1225, Trần Cảnh, tức Trần Thái Tông, lấy Lý Chiêu Hoàng, em Thuận
Thiên; trường hợp này cũng là con cô lấy con cậu.
-
Sau khi Lý Huệ Tông chết, giáng Huệ hậu (Trần Thị
Dung) làm Thiên Cực công chúa, gả cho
Trần Thủ Độ tức
là chị em họ lấy nhau. Hai người vốn đã có tư tình với nhau từ trước.
-
Năm 1237, vì Chiêu Hoàng không có con, Thủ Độ ép Thái Tông lấy Thuận
Thiên, lúc ấy đã có mang ba tháng với Trần Liễu. Trường hợp này vừa là
con cô con cậu lấy nhau, vừa là em chồng lấy chị dâu.
-
Vua Thái Tông hứa gả em gái là Trưởng công chúa Thiên Thành cho Trung
Thành vương và đã cho Thiên Thành tới ở nhà Nhân Đạo vương, là cha đẻ ra
Trung Thành vương, để chờ ngày cưới.
-
Năm 1251, Hưng Đạo vương muốn lấy công chúa Thiên Thành, đang đêm lẻn
vào phòng Thiên Thành thông dâm. Thụy Bà Trưởng công chúa, chị Thái Tông
và Thiên Thành, lại là mẹ nuôi Hưng Đạo vương, đang đêm gõ cửa cung nói
dối là Hưng Đạo vương đã bị Nhân Đạo vương bắt giam, xin vua cứu giúp.
Sự thật, khi vua sai người tới thì Hưng Đạo vương còn trong phòng Thiên
Thành và lúc ấy Nhân Đạo vương mới biết. Hôm sau Thụy Bà phải dâng mười
mâm vàng sống xin cưới Thiên Thành cho Hưng Đạo. Vua bất đắc dĩ phải gả
và bồi thường cho Trung Thàng vương. Như vậy Thiên Thành có họ với Trung
Thành vương, lại là cô ruột Hưng Đạo, vì Hưng Đạo là con Trần Liễu, anh
ruột Thiên Thành. Đây là trường hợp cháu lấy cô.
-
Năm 1258,
Trần Thánh Tông
lấy Thiên Cảm công chúa là con Trần Liễu, tức là con chú con bác lấy
nhau.
-
Thụy Bảo công chúa, con vua Thái Tông, lấy Uy Văn vương Toại.
-
Gả công chúa tên Thúy, con Thái Tông cho Thượng vị Văn Hưng hầu.
-
Thiên Thụy công chúa, con vua Thánh Tông và Thiên Cảm, tức cháu nội Thái
Tông và cháu ngoại Trần Liễu, lấy Hưng Vũ vương Quốc Nghiễn (con Trần
Hưng Đạo), cháu nội Trần Liễu; trường hợp này vừa là con cô con cậu
(Trần Hưng Đạo và Thiên Cảm là con Trần Liễu) vừa là cháu chú cháu bác
lấy nhau.
-
Thiên Thụy công chúa lại tư thông với Nhân Huệ
vương
Trần Khánh Dư là
tôn thất nhà Trần, nhờ có công đánh quân Nguyên được Thượng hoàng Thánh
Tôn nhận làm con nuôi.
-
Năm 1274, Nhân Tông, con Thánh Tông, lấy Bảo Thánh, rồi Tuyên Từ, đều là
con Hưng Đạo vương. Trường hợp này giống Thiên Thụy lấy Quốc Nghiễn.
-
Anh Tông, con Nhân Tông, cháu Thánh Tông, chắt
Thái Tông, lấy Văn Đức phu nhân năm 1292, là con Hưng Nhượng vương Quốc
Tảng, cháu nội Hưng Đạo vương, chắt Trần Liễu. Trường hợp này là cháu cô
cháu cậu (Hưng Đạo vương và Thiên Cảm là con
Trần Liễu) hay
chắt chú chắt bác lấy nhau.
-
Sau Anh Tông lại bỏ Văn Đức phu nhân mà lấy em ruột phu nhân là Thánh
Tư.
-
Anh Tông lấy Huy Tư là con Thụy Bảo công chúa và
Trần Bình Trọng.
Thụy Bảo là em Thánh Tông, Anh Tông là cháu nội Thánh Tông, tức cháu lấy
cô.
-
Năm 1301, Thiên Trân công chúa, con Anh Tông, Anh
Tông là con Nhân Tông, cháu Thánh Tông, lấy Uy Túc công Văn Bích, cháu
nội
Trần Quang Khải.
Quang Khải và Thánh Tông là anh em, tức cháu chú cháu bác lấy nhau.
-
Thiên Trân chết, Uy Túc lại lấy Huy Thánh công chúa.
-
Thượng Trân công chúa, em Anh Tông, chắt Thái Tông lấy Văn Huệ công
Quang Triều, con Quốc Tảng, cháu Hưng Đạo, chắt Trần Liễu, tức chắt chú
chắt bác lấy nhau.
-
Trần Minh Tông,
con Anh Tông, cháu Nhân Tông, lấy Huy Thánh tức Lệ Thánh, con gái lớn
Huệ Vũ vương Quốc Chẩn. Chẩn là em Anh Tông: Con chú con bác lấy nhau.
-
Minh Tông gả Huy Chân, con Nhân Tông, cho Uy Giản hầu năm 1317.
-
Mẹ Huy Chân là Trần Thị Thái Bình, cung tần của Thượng hoàng Anh Tông.
-
Năm 1318 Minh Tông gả Thiên Chân Trưởng công chúa cho Huệ Chính vương.
-
Năm 1337 Hiến Tông, con Minh Tông, lấy Hiển Trinh, con gái lớn Huệ Túc
vương Đại Niên.
-
Năm 1342, Thiên Ninh công chúa, con Minh Tông, lấy Hưng/Chính Túc vương
Kham.
-
Năm 1349, Dụ Tông, con Minh Tông, lấy con gái thứ tư Huệ Túc vương là YÙ
Từ Nghi Thánh.
-
Năm 1351, Dụ Tông loạn dâm với Thiên Ninh là chị ruột. Nguyên năm 1339
Dụ Tông bị chết đuối ở Hồ Tây, được thầy thuốc Tầu Trâu Canh dùng kim
châm cứu khỏi nhưng đoán sau này lớn lên sẽ bị liệt dương. Sau quả nhiên
sự việc xảy ra đúng như vậy, Trâu Canh được vời đến chữa, khuyên vua
giết một đứa con trai nhỏ tuổi lấy mật hoà với thuốc dương khởi thạch mà
uống rồi thông dâm với chị hay em ruột. Vua nghe theo, thông dâm với
Thiên Ninh công chúa.
-
Huy Ninh công chúa, con Minh Tông, lấy Tông thất Nhân Vinh. Sau Nhân
Vinh bị Nhật Lễ giết, Nghệ Tông là anh, lại gả Huy Ninh cho Quý Ly.
-
Duệ Tông, con Minh Tông và Lê Đơn Từ, cô Quý Ly, lấy Hiền Trinh là em họ
Quý Ly, tức anh em họ lấy nhau.
-
Duệ Tông lấy con gái Thái bảo Trần Liêu làm phi.
-
Năm 1375 Duệ Tông gả con là Trang Huy công chúa cho Nguyên Dẫn, con Cung
Chính vương. Cung Chính vương và Duệ Tông đều là con Minh Tông, tức con
chú con bác lấy nhau.
-
Thiên Huy hay Thái Dương công chúa, con Nghệ Tông, lấy Phế Đế là con Duệ
Tông. Nghệ Tông và Duệ Tông cùng là con Minh Tông, mẹ Nghệ Tông là Minh
Từ, mẹ Duệ Tông là Đôn Từ, là hai chị em ruột, cô của Quý Ly: vừa là con
chú con bác, vừa là cháu dì cháu già lấy nhau.
-
Sau khi Phế Đế chết, vợ là Thái Dương tư thông với Nguyên Uyên, con Cung
Tín vương Thiên Trạch, em Nghệ Tông: con chú con bác tư thông với nhau.
-
Năm 1393, thượng hoàng
Trần Nghệ Tông
giận Thái Dương, đem gả Thái Dương cho Nguyên Hãng là em Nguyên Uyên để
làm nhục.
-
Tuyên Huy công chúa, con Duệ Tông, lấy Quan Phục Đại vương Húc, con Nghệ
Tông, giống trường hợp Thái Dương lấy Phế Đế.
-
Quý Ly gả Trang Huy công chúa, con Tông thất Nhân
Vinh (bị Nhật Lễ giết) cho Mộng Dữ, con
Trần Nguyên Đán,
cháu bốn đời của Quang Khải.
-
Thuận Tông, con út Nghệ Tông, lấy Thánh Ngẫu công
chúa là con gái lớn của
Hồ Quý Ly và Huy
Ninh công chúa. Huy Ninh là em Nghệ Tông, tức là con cô con cậu lấy
nhau. Thuận Tông lại là cháu nội của Đôn Từ, cô của Quý Ly, lấy con gái
Quý Ly, tức anh em họ lấy nhau.
Từ khi Trần Nghệ Tông trọng dụng Hồ Quý Ly là
một ngoại thích, lập tức nhà Trần cũng gặp "họa ngoại thích" và mất về tay
ngoại thích. Excerpt
from:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tr%E1%BA%A7n) | | |
 | | |
Theo phong tục tập quán hôn nhân gia đình xưa và nay của một số vùng thuộc các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc... thì họ hàng được phép kết hôn với nhau, nếu không trùng họ. Ngược lại, nếu trùng họ thì dù không là họ hàng với nhau cũng không được kết hôn.
Còn theo phong tục Việt Nam, thì việc cùng họ hay khác họ cũng không được phép kết hôn, nếu đã là họ hàng với nhau. Ngoại trừ là họ hàng sau 3 đời, thì có thể kết hôn.
Chính sách hôn nhân
Nhà Trần lấy ngôi nhà Lý bằng biện pháp hôn nhân. Nhà Trần từ vai trò là ngoại thích của nhà Lý đã giành ngôi. Do đó, để tránh họa ngoại thích, nhà Trần chủ trương chỉ kết hôn với người trong họ.
Tác giả Nguyễn Thị Chân Quỳnh
[3] đã dẫn ra gần 40 trường hợp hôn nhân nội tộc của nhà Trần: -
Trần Liễu, anh Thái Tông, con Thượng hoàng Trần Thừa, lấy Thuận Thiên công chúa, con vua
Lý Huệ Tông và Thuận Trinh. Thuận Trinh là em ruột Trần Thừa, Trần Liễu và Thuận Thiên là con cô con cậu.
-
Năm 1225, Trần Cảnh, tức Trần Thái Tông, lấy Lý Chiêu Hoàng, em Thuận Thiên; trường hợp này cũng là con cô lấy con cậu.
-
Sau khi Lý Huệ Tông chết, giáng Huệ hậu (Trần Thị Dung) làm Thiên Cực công chúa, gả cho
Trần Thủ Độ tức là chị em họ lấy nhau. Hai người vốn đã có tư tình với nhau từ trước.
-
Năm 1237, vì Chiêu Hoàng không có con, Thủ Độ ép Thái Tông lấy Thuận Thiên, lúc ấy đã có mang ba tháng với Trần Liễu. Trường hợp này vừa là con cô con cậu lấy nhau, vừa là em chồng lấy chị dâu.
-
Vua Thái Tông hứa gả em gái là Trưởng công chúa Thiên Thành cho Trung Thành vương và đã cho Thiên Thành tới ở nhà Nhân Đạo vương, là cha đẻ ra Trung Thành vương, để chờ ngày cưới.
-
Năm 1251, Hưng Đạo vương muốn lấy công chúa Thiên Thành, đang đêm lẻn vào phòng Thiên Thành thông dâm. Thụy Bà Trưởng công chúa, chị Thái Tông và Thiên Thành, lại là mẹ nuôi Hưng Đạo vương, đang đêm gõ cửa cung nói dối là Hưng Đạo vương đã bị Nhân Đạo vương bắt giam, xin vua cứu giúp. Sự thật, khi vua sai người tới thì Hưng Đạo vương còn trong phòng Thiên Thành và lúc ấy Nhân Đạo vương mới biết. Hôm sau Thụy Bà phải dâng mười mâm vàng sống xin cưới Thiên Thành cho Hưng Đạo. Vua bất đắc dĩ phải gả và bồi thường cho Trung Thàng vương. Như vậy Thiên Thành có họ với Trung Thành vương, lại là cô ruột Hưng Đạo, vì Hưng Đạo là con Trần Liễu, anh ruột Thiên Thành. Đây là trường hợp cháu lấy cô.
-
Năm 1258,
Trần Thánh Tông lấy Thiên Cảm công chúa là con Trần Liễu, tức là con chú con bác lấy nhau.
-
Thụy Bảo công chúa, con vua Thái Tông, lấy Uy Văn vương Toại.
-
Gả công chúa tên Thúy, con Thái Tông cho Thượng vị Văn Hưng hầu.
-
Thiên Thụy công chúa, con vua Thánh Tông và Thiên Cảm, tức cháu nội Thái Tông và cháu ngoại Trần Liễu, lấy Hưng Vũ vương Quốc Nghiễn (con Trần Hưng Đạo), cháu nội Trần Liễu; trường hợp này vừa là con cô con cậu (Trần Hưng Đạo và Thiên Cảm là con Trần Liễu) vừa là cháu chú cháu bác lấy nhau.
-
Thiên Thụy công chúa lại tư thông với Nhân Huệ vương
Trần Khánh Dư là tôn thất nhà Trần, nhờ có công đánh quân Nguyên được Thượng hoàng Thánh Tôn nhận làm con nuôi.
-
Năm 1274, Nhân Tông, con Thánh Tông, lấy Bảo Thánh, rồi Tuyên Từ, đều là con Hưng Đạo vương. Trường hợp này giống Thiên Thụy lấy Quốc Nghiễn.
-
Anh Tông, con Nhân Tông, cháu Thánh Tông, chắt Thái Tông, lấy Văn Đức phu nhân năm 1292, là con Hưng Nhượng vương Quốc Tảng, cháu nội Hưng Đạo vương, chắt Trần Liễu. Trường hợp này là cháu cô cháu cậu (Hưng Đạo vương và Thiên Cảm là con
Trần Liễu) hay chắt chú chắt bác lấy nhau.
-
Sau Anh Tông lại bỏ Văn Đức phu nhân mà lấy em ruột phu nhân là Thánh Tư.
-
Anh Tông lấy Huy Tư là con Thụy Bảo công chúa và
Trần Bình Trọng. Thụy Bảo là em Thánh Tông, Anh Tông là cháu nội Thánh Tông, tức cháu lấy cô.
-
Năm 1301, Thiên Trân công chúa, con Anh Tông, Anh Tông là con Nhân Tông, cháu Thánh Tông, lấy Uy Túc công Văn Bích, cháu nội
Trần Quang Khải. Quang Khải và Thánh Tông là anh em, tức cháu chú cháu bác lấy nhau.
-
Thiên Trân chết, Uy Túc lại lấy Huy Thánh công chúa.
-
Thượng Trân công chúa, em Anh Tông, chắt Thái Tông lấy Văn Huệ công Quang Triều, con Quốc Tảng, cháu Hưng Đạo, chắt Trần Liễu, tức chắt chú chắt bác lấy nhau.
-
Trần Minh Tông, con Anh Tông, cháu Nhân Tông, lấy Huy Thánh tức Lệ Thánh, con gái lớn Huệ Vũ vương Quốc Chẩn. Chẩn là em Anh Tông: Con chú con bác lấy nhau.
-
Minh Tông gả Huy Chân, con Nhân Tông, cho Uy Giản hầu năm 1317.
-
Mẹ Huy Chân là Trần Thị Thái Bình, cung tần của Thượng hoàng Anh Tông.
-
Năm 1318 Minh Tông gả Thiên Chân Trưởng công chúa cho Huệ Chính vương.
-
Năm 1337 Hiến Tông, con Minh Tông, lấy Hiển Trinh, con gái lớn Huệ Túc vương Đại Niên.
-
Năm 1342, Thiên Ninh công chúa, con Minh Tông, lấy Hưng/Chính Túc vương Kham.
-
Năm 1349, Dụ Tông, con Minh Tông, lấy con gái thứ tư Huệ Túc vương là YÙ Từ Nghi Thánh.
-
Năm 1351, Dụ Tông loạn dâm với Thiên Ninh là chị ruột. Nguyên năm 1339 Dụ Tông bị chết đuối ở Hồ Tây, được thầy thuốc Tầu Trâu Canh dùng kim châm cứu khỏi nhưng đoán sau này lớn lên sẽ bị liệt dương. Sau quả nhiên sự việc xảy ra đúng như vậy, Trâu Canh được vời đến chữa, khuyên vua giết một đứa con trai nhỏ tuổi lấy mật hoà với thuốc dương khởi thạch mà uống rồi thông dâm với chị hay em ruột. Vua nghe theo, thông dâm với Thiên Ninh công chúa.
-
Huy Ninh công chúa, con Minh Tông, lấy Tông thất Nhân Vinh. Sau Nhân Vinh bị Nhật Lễ giết, Nghệ Tông là anh, lại gả Huy Ninh cho Quý Ly.
-
Duệ Tông, con Minh Tông và Lê Đơn Từ, cô Quý Ly, lấy Hiền Trinh là em họ Quý Ly, tức anh em họ lấy nhau.
-
Duệ Tông lấy con gái Thái bảo Trần Liêu làm phi.
-
Năm 1375 Duệ Tông gả con là Trang Huy công chúa cho Nguyên Dẫn, con Cung Chính vương. Cung Chính vương và Duệ Tông đều là con Minh Tông, tức con chú con bác lấy nhau.
-
Thiên Huy hay Thái Dương công chúa, con Nghệ Tông, lấy Phế Đế là con Duệ Tông. Nghệ Tông và Duệ Tông cùng là con Minh Tông, mẹ Nghệ Tông là Minh Từ, mẹ Duệ Tông là Đôn Từ, là hai chị em ruột, cô của Quý Ly: vừa là con chú con bác, vừa là cháu dì cháu già lấy nhau.
-
Sau khi Phế Đế chết, vợ là Thái Dương tư thông với Nguyên Uyên, con Cung Tín vương Thiên Trạch, em Nghệ Tông: con chú con bác tư thông với nhau.
-
Năm 1393, thượng hoàng
Trần Nghệ Tông giận Thái Dương, đem gả Thái Dương cho Nguyên Hãng là em Nguyên Uyên để làm nhục.
-
Tuyên Huy công chúa, con Duệ Tông, lấy Quan Phục Đại vương Húc, con Nghệ Tông, giống trường hợp Thái Dương lấy Phế Đế.
-
Quý Ly gả Trang Huy công chúa, con Tông thất Nhân Vinh (bị Nhật Lễ giết) cho Mộng Dữ, con
Trần Nguyên Đán, cháu bốn đời của Quang Khải.
-
Thuận Tông, con út Nghệ Tông, lấy Thánh Ngẫu công chúa là con gái lớn của
Hồ Quý Ly và Huy Ninh công chúa. Huy Ninh là em Nghệ Tông, tức là con cô con cậu lấy nhau. Thuận Tông lại là cháu nội của Đôn Từ, cô của Quý Ly, lấy con gái Quý Ly, tức anh em họ lấy nhau.
Từ khi Trần Nghệ Tông trọng dụng Hồ Quý Ly là một ngoại thích, lập tức nhà Trần cũng gặp "họa ngoại thích" và mất về tay ngoại thích.
Trích Lục từ:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tr%E1%BA%A7n)
| |